40 Năm chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc và bài học về đường lối đối ngoại

40 NĂM CHIẾN TRANH BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC

 VÀ BÀI HỌC VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI

Cách đây tròn 40 năm đã diễn ra cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc của tổ quốc vô cùng ác liệt, nhiều hy sinh, mất mát nhưng không kém phần anh dũng, kiên cường, đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý báu, trong đó có bài học về đường lối đối ngoại. Suy ngẫm về những bài học đó để nhận thức sâu sắc hơn về đường lối đối ngoại Đảng và Nhà nước ta hiện nay, nhất là trong tình hình thế giới, khu vực đang diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường.

Cuộc chiến tranh diễn ra trong bối cảnh có nhiều biến động sâu sắc trong quan hệ tam giác chiến lược Trung Quốc, Liên Xô và Mỹ trong thập niên 70 của thế kỷ XX. Từ năm 1949 đến 1959, quan hệ Trung – Xô đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh mẽ, tiến công và làm tan rã từng mảng lớn hệ thống thuộc địa của Chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Khi đó đế quốc Mỹ là kẻ thù chung của hai nước Trung – Xô.

Trong 10 năm tiếp theo, quan hệ Trung – Xô – Mỹ có những diễn biến phức tạp, bắt đầu rạn nứt trong quan hệ Trung – Xô, đỉnh điểm là cuộc xung đột biên giới năm 1969. Trái ngược với mâu thuẫn sâu sắc trong quan hệ Trung – Xô, quan hệ Trung – Mỹ lại xích lại gần nhau hơn. Trong bối cảnh phong trào cách mạng thế giới bị phân hóa, mâu thuẫn Trung – Xô sâu sắc, nhưng dựa vào đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, Đảng ta đã giữ được mối quan hệ với hai nước, tranh thủ sự giúp đỡ hiệu quả của bạn để chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Trái ngược với tình trạng xấu đi trong quan hệ Trung - Xô, quan hệ Việt – Xô (1965 – 1975) phát triển ngày càng mạnh mẽ. Sau khi giúp đỡ Việt Nam giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, quan hệ Việt – Xô tiếp tục phát triển tốt đẹp. Ngày 3/11/1978, nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô – Viết ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, đánh dấu bước phát triển mới của tình đoàn kết và hợp tác toàn diện giữa hai nước và sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của Liên Xô đối với Việt Nam, cùng với những điều khoản về hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, Hiệp ước còn đề cập đến vấn đề quốc phòng, anh ninh nhằm đảm bảo hòa bình và an ninh của hai nước.

Sau chiến thắng đế quốc Mỹ ngày 17/4/1975 ở Campuchia, tập đoàn Pôn Pốt lến nắm quyền, lập ra nhà nước "Campuchia dân chủ", phản bội lại nhân dân Campuchia và phá hoại truyền thống đoàn kết hữu nghị của nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia, thực hiện chính sách diệt chủng cực kỳ tàn bạo ở Campuchia và xâm lược biên giới phía Tây nam của Việt Nam. Trước hành động xâm lược và diệt chủng tàn bạo của chế độ Pôn Pốt, đáp trả lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Việt Nam đã thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình, đập tan các hành động xâm lược, cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pôn Pốt, giải phóng Campuchia vào ngày 7/1/1979. Thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây nam của tổ quốc và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pôn Pốt đã dẫn đến những căng thẳng trong quan hệ Trung  – Việt.

Trước những căng thẳng trong quan hệ hai nước, đặc biệt là ở khu vực biên giới, Đảng và Nhà nước ta kiên trì chủ trương giải quyết bằng biện pháp hòa bình. Nhưng bất chấp những nỗ lực của ta, từ 3 giờ 30 phút ngày 17/2/1979, cuộc chiến đã nỗ ra trên toàn tuyến biên giới từ Pò Hèn (Quảng Ninh) đến Pa Nậm Cúm (Lai Châu). Đến ngày 18/3/1979 cơ bản kết thúc, ở một vài nơi tình hình căng thẳng kéo dài đến năm 1989 mới chấm dứt.

Ôn lại những sự kiện lịch sử trên, chúng ta có thêm cơ sở để nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về một số nội dung trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, được xác định trong Nghị quyết đại XII của Đảng:

Một là, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững tính độc lập, tự chủ trong công tác đối ngoại, không để lệ thuộc vào bất kỳ nước nào, nhất là các nước lớn thì mới giữ vững được quyền tự quyết, từ đó bảo vệ được lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc. Ngược lại sẽ mất quyền tự quyết, bị dẫn dắt bởi các nước lớn, vì thế lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc sẽ bị tổn hại. Hiện nay khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và Biển Đông đang trở thành địa bàn tranh giành ảnh hưởng chiến lược giữa các nước lớn vô cùng quyết liệt. Với vị trí địa chiến lược và địa chính trị vô cùng quan trọng, Việt Nam đang bị các nước lớn lôi kéo vào tập hợp lực lượng của họ để tranh giành ảnh hưởng với nước khác. Trong bối cảnh đó, chúng ta càng phải kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ, tuyệt đối không ngã theo nước nào, không liên minh với bất kỳ nước nào để chống lại một nước khác, càng tuyệt đối không được đặt vận mệnh của cả quốc gia – dân tộc vào bất kỳ một nước nào, cho dù đó là một nước lớn – nhất là khi các nước lớn đang mâu thuẫn nhau, đang tranh giành lợi ích lẫn nhau. Mối quan hệ Việt - Trung và Việt – Xô đã nói ở phần trên là một minh chứng sống động, trong khi quan hệ giữa Liên Xô, Trung Quốc và Mỹ đang chuyển hóa và mẫu thuẫn sâu sắc, ta xác định Liên Xô là "hòn đá tảng" trong quan hệ đối ngoại, tất cả đều dựa vào Liên Xô, dẫn đến khó khăn, trở ngại trong mối quan hệ với một vài nước lớn khác, đặc biệt khi Liên Xô tan rã, cách mạng nước ta rơi vào khó khăn lớn. Trong bối cảnh hiện nay phải hết sức chú ý để tránh vết xe đổ ấy và đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ, đồng thời giữ vững tính độc lập, tự chủ là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết.

Hai là, chú trọng phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng, trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thì giữ vững môi trường hòa bình và ổn định của đất nước là điều kiện tiên quyết. Từ thời Lê sơ đến vua Quang Trung đã đưa ra tư tưởng "nội an, ngoại tĩnh, quốc phú, binh cường" để dựng nước và giữ nước, trong các yếu tố đó thì yếu tố "ngoại tĩnh" liên quan đến đường lối đối ngoại với các nước láng giềng để giữ vững sự ổn định ở biên giới quốc gia. Bởi các nước láng giềng là phên dậu của nước ta, các nước đó bất ổn thì nước ta củng chịu ảnh hưởng nặng nề, mối quan hệ giữa Việt Nam với Campuchia và với Trung Quốc như đã nói ở phần trên là bài học sáng rõ về tầm quan trọng của việc xây dựng các mối quan hệ hợp tác hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng, xử lý linh hoạt các bất đồng phát sinh, không để dẫn đến đối đầu, xung đột, đặc biệt là ở khu vực biên giới. Hiện nay nhìn vào cuộc chiến tại Syria đã ảnh hưởng nặng nề đến các nước láng giềng như Lebanon, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ bởi các nhóm khủng bố xâm nhập, làn sóng dân di cư sang biên giới, thậm chí còn lan đến cả các nước Châu Âu đã tác động tiêu cực đến an ninh, quốc phòng và kinh tế, xã hội, các nước gặp rất nhiều khó khăn để giải quyết.

Ba là, đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược và các nước lớn có vai trò quan trọng đối với phát triển và an ninh của đất nước, đưa quan hệ đã xác lập vào thực chất. Trên bàn cờ thế giới hiện nay thực chất là cuộc chơi giữa các nước lớn, bất cứ nơi đâu trên địa cầu, kể cả trong không gian vũ trụ, mà có lợi ích thì ở đó có bóng dáng của các nước lớn. Tất cả các thể chế đa phương, các tổ chức lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều do các nước lớn chi phối và dẫn dắt. Do đó, lợi ích của các quốc gia – dân tộc trên thế giới dù ít hay nhiều củng có sự tác động, chi phối bởi các nước lớn, nhất là trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế như hiện nay. Điều đó cho thấy, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với các đối tác lớn, nhất là các nước lớn trong tình hình hiện nay liên quan rất mật thiết đến thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đảm bảo tối cao lợi ích quốc gia - dân tộc của chúng ta. Nếu được các nước lớn đồng tình và ủng hộ ta sẽ rất thuận lợi trong việc tranh thủ ngoại lực để phát triển đất nước, ngược lại có thể dẫn đến bị bao vây, cấm vận, trừng phạt...như chính quyền Mỹ đang thực hiện với Trung Quốc, Nga và Iran – là bài học nhãn tiền, thì chúng ta sẽ rơi vào thế bất lợi, bất ổn, kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh gặp phải nguy cơ lớn, thậm chí có thể dẫn đến đối đầu, chiến tranh, bạo loạn lật đổ. Do đó, bên cạnh việc đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược và các nước lớn củng cần phải chủ động và kịp thời phát hiện, ngăn ngừa từ sớm, từ xa những mâu thuẩn phát sinh, linh hoạt xử lý hiệu quả, không để dẫn đến đối đầu gây bất lợi cho ta.

Trên con đường diễn tiến của lịch sử, 40 năm là khoảng lùi đủ xa để chúng ta chiêm nghiệm lại một sự kiện đã diễn ra, rút ra những bài học lịch sử để vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Từ đó ta nhận thức sâu sắc hơn tính đúng đắn, sự cần thiết và một lòng tin tưởng vào đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, quyết tâm cùng với Đảng, Nhà nước kiên trì thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại này, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại như Nghị quyết đại hội XII của Đảng đã đề ra./.

                                                                                                                     Lê Văn Hùng Vương



















Thống kê truy cập Thống kê truy cập

0 3 8 3 5 4 8 5 5
Hôm nay: 232
Hôm qua: 6.868
Tuần này: 7.100
Tháng này: 76.856
Tổng cộng: 38.354.855