DI TÍCH LĂNG MỘ DANH NHÂN ĐỖ THÚC TỊNH
DI TÍCH LĂNG MỘ DANH NHÂN ĐỖ THÚC TỊNH...
<p style="text-align: center;"> <span style="text-align: center;"><span style="line-height: 115%; font-weight: bold; font-size: 14pt;">DI TÍCH</span> </span><b style="line-height: 115%; text-align: center;"><span style="font-size:14.0pt;line-height:\r115%">LĂNG MỘ DANH NHÂN ĐỖ THÚC TỊNH</span></b></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><b><span style="font-size:14.0pt;line-height:\r115%"> Địa điểm<o:p></o:p></span></b></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Lăng mộ danh nhân Đỗ Thúc Tịnh hiện toạ lạc tại thôn 5, xã Hoà Khương, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng (trước đây là thôn Hương Lam, xã Hoà Khương, huyện Hoà Vang).<o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Để đi đến di tích, chúng ta có thể đi theo đường quốc lộ 14B, khi đến trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Hoà Khương, đi ngược ra hướng Bắc khoảng 500m, sau đó rẽ về phía tay trái theo con đường làng, đi bộ 1,5km thì đến Di tích lăng mộ.<o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><b><span style="font-size:14.0pt;line-height:\r115%"> Lịch sử<o:p></o:p></span></b></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><b><i><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Quê hương và dòng họ của Đỗ Thúc Tịnh<o:p></o:p></span></i></b></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Nằm cách thành phố Đà Nẵng khoảng 20 km về phía Tây –Nam, trên trục quốc lộ 14B, có một ngôi làng mang tên La Châu – quê hương của vị khoa bảng nổi tiếng thời Tự Đức, tiến sĩ Đỗ Thúc Tịnh.</span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align: center; line-height: 115%;"><img src="/UserFiles/image/Dothuctinh.jpg" width="600" height="451" alt="" /></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"><o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Làng La Châu, nguyên trước thuộc tổng Phước Tường Thượng, huyện Hoà Vang, tỉnh Quảng <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region>. Đến thời vua Khải Định nhà Nguyễn, La Châu là một đơn vị hành chính cấp xã thuộc tổng An Phước, huyện Hoà Vang, tỉnh Quảng <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region>. Ngày nay, La Châu thuộc xã Hoà Khương, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Cho đến nay thật khó xác định thời gian lập làng La Châu một cách chính xác. Chỉ biết rằng dòng họ đến đây khai canh lập nghiệp sớm nhất là tộc Đinh, nay đã trải qua 17 đời. Đối với tộc Đỗ, gia phả dòng họ Đỗ Thúc Tịnh cho biết tổ tiên là người Quảng Ngãi, đến đời thứ 6 có ông Đỗ Hữu Nghi ra Quảng <st1:place w:st="on"><st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region></st1:place> học và lấy người con gái họ Võ, người làng An Trạch (thuộc xã Hoà Khương, huyện Hoà Vang ngày nay). Sau đó ông đưa cả gia đình lên lập nghiệp ở La Châu và trở thành ngài thuỷ tổ của tộc Đỗ ở đây. Đó là vào khoảng nửa sau thế kỷ 18. Từ đó, liên tiếp các đời thứ 7, thứ 8 họ Đỗ La Châu luôn có những người học hành đỗ đạt, giữ nhiều trọng trách ở tổng, huyện. Đặc biệt, đến đời thứ 9 (1818), Đỗ Như Chương ra đời và trở thành người học rộng tài cao, không những làm rạng danh cho quê hương, dòng họ mà còn giúp ích cho đất nước bằng những hoạt động tích cực.</span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align: center; line-height: 115%;"><img src="/UserFiles/image/Dothuctinh1.jpg" width="600" height="417" alt="" /></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"><o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> La Châu nằm về phía Đông <st1:place w:st="on"><st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region></st1:place> xã Hoà Khương, nơi có sông Yên đi qua mang theo dòng nước mát nuôi dưỡng cánh đồng lúa và hoa màu – là cơ sở kinh tế chủ yếu của làng. Cũng như bao mảnh đất khác trên dải miền Trung, hàng năm La Châu luôn phải đối mặt với mưa bão, lũ lụt về mùa đông và nạn hạn hán, thiếu nước về mùa khô, đặc biệt trong ba tháng hè. Do đó, tuy có truyền thống lao động cần cù, chịu khó, và có thêm nguồn thu nhập từ nghề dệt thao (một nghề thủ công truyền thống của làng, nay không còn), nhưng đời sống kinh tế của dân làng luôn gặp nhiều khó khăn. Ngày nay, kể từ khi đất nước đổi mới, đặc biệt khi Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc trung ương (1997), La Châu có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, đời sống dân làng có phần nâng cao.<o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Trong quá khứ, tuy đời sống kinh tế khó khăn, nhưng La Châu có truyền thống hiếu học đã trở thành nét đẹp văn hoá khiến nhiều làng khác phải ngưỡng mộ, biểu hiện qua việc xây dựng Văn Chỉ La Châu, nhiều người đã đỗ đạt thành tài, mà Đỗ Thúc Tịnh là tiêu biểu.<o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><b><i><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Đỗ Thúc Tịnh – thân thế và sự nghiệp<o:p></o:p></span></i></b></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Ông Đỗ Thúc Tịnh tự là Cấn Trai, huý là Như Chương, sinh ngày 16 tháng giêng năm Mậu Dần (tức ngày 20 tháng 2 năm 1818), mất ngày 26 tháng giêng năm Nhâm Tuất (1826). Thân phụ là Đỗ Như Tùng và thân mẫu là bà Đinh Thị Thoại, đều là người cùng làng.<o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Sinh thời, Đỗ Thúc Tịnh là người thông minh, ham học, hết mực hiếu thuận nên được bà con xóm làng khen ngợi, yêu mến. Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), Đỗ Thúc Tịnh đỗ cử nhân khoa Bính Ngọ. Hai năm sau, năm 1848, khi Tự Đức mới lên ngôi, mở khoa thi đặc biệt gọi là Ân khoa, ông đậu Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, đứng hàng thứ tư, là vị tiến sĩ đầu tiên của huyện Hoà Vang lúc bấy giờ. Năm Tự Đức thứ 3 (1850), ông được bổ làm tri phủ Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Nhưng chỉ một thời gian ngắn ông phải xin về quê phụng dưỡng mẹ già đang ốm nặng. Gia phả họ Đỗ ghi lại: <i>“suốt ngày, ông quanh quẩn dưới gối, chẳng muốn xa lìa mẹ một phút”</i> Không lâu sau, năm 1851, mẹ ông qua đời. Theo lễ giáo phong kiến, ông ở nhà thọ tang mẹ 3 năm. Năm Tự Đức thứ 6 (1853) ông lại được gọi ra, bổ làm tri phủ huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà. Chính lúc này, Đỗ Thúc Tịnh mới có dịp thi thố sở học và biểu lộ phẩm cách của một công bộc với dân. Khi ông về chấp chính ở Diên Khánh, nhân dân ở đây đang gặp rất nhiều khó khăn, đói kém, bệnh tật, nạn cướp bóc luôn hoành hành. Ông tìm cách an ủi nhân dân, cấp thuốc men cho người bệnh tật, phân phát gạo cho người nghèo khó; đối với bọn cướp, ông một mặt khuyên dụ, thu phục, mặt khác tạo cho chúng công ăn việc làm để hoàn lương. Nhưng đó mới chỉ là việc làm trước mắt. Để tạo cho nhân dân có được cuộc sống no ấm lâu dài, ông lo sửa chữa đường sá, vận động nhân dân khai khẩn đất hoang, đẩy mạnh sản xuất, khai thôn mở ấp, mở mang chợ búa để thúc đẩy giao thương. Nhờ vậy Diên Khánh đã có thêm 242 mẫu ruộng, 960 gia đình được an cư lạc nghiệp, đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt. Ông được nhân dân yêu mến và kính trọng gọi là <i>“Đỗ Phụ”<o:p></o:p></i></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;text-indent:36.0pt;line-height:\r115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%">Tài năng và công trạng của ông nhanh chóng được triều đình biết đến nên chỉ một năm sau, năm Tự Đức thứ 7 (1854), ông được vua hạ chỉ gọi về kinh làm giám sát ngự sử, nhưng nhân dân Diên Khánh và quan tỉnh thần địa phương làm đơn gởi về triều xin cho ông ở lại. Vua Tự Đức chuẩn tấu, còn ban châu phê (chữ phê của vua bằng son đỏ) rằng: <i>“Cai viên tại chức nải năng thanh bần tự thủ, tận tâm dân sự. Tiết cứ cai tỉnh thần đề đạt, như xuất nhất từ. Tự thử liêm cán đễ nhân, tuân vị phủ huyện trung chi tối. Đỗ Thúc Tịnh trước tức hàng thực thụ: Hàm lâm viên thị độc, nhưng lãnh cai phủ, tri phủ, dĩ vi tuần lại cho khuyến Khâm thử”. Hàn lâm viện thị độc, nhưng lãnh cai phủ, tri phủ, dĩ vi tuần lại cho khuyến, Khâm thử”</i>. Nghĩa là: <i>“Ông ấy đang ở đương chức, lại có khả năng giữ mình ở mức “thanh bần”, hết lòng vì dân. Cứ theo lời đề đạt nhiều lần của quan tỉnh, chỉ có đề xuất một lời: Ông ấy là người “liêm cán” hết mình. Điều đó có thể làm gương cho các phủ huyện. Nay ta ghi tặng ông Đỗ Thúc Tịnh được đứng vào hàm: “Thực thụ Hàn viên thị độc”.</i> Không lâu sau ông được thăng Hồng lô Tự Khanh, Án sát Khánh Hoà, rồi Bố chính tỉnh này, lại đổi về Biện lý binh bộ.<o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Năm 1859, thực dân Pháp chiếm thành Gia Định, hai năm sau chúng đánh chiếm Định Tường. Trong lúc tại triều đình có người vì lo sợ đã chủ hoà, thì Đỗ Thúc Tịnh dâng sớ xin Tự Đức cho vào Nam cùng quân dân trong ấy chống giặc Pháp xâm lược, cứu nước. Trong sớ có câu: “Dĩ lục tỉnh binh lương, thâu lục tỉnh thổ võ, bất phi triều đình, nhất lương”. Nghĩa là: <i>“Dùng binh lính, lương thực vùng lục tỉnh, giành lại đất đai vùng lục tỉnh, không tốn của triều đình một quân sĩ, một hạt gạo”.<o:p></o:p></i></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Ông được Tự Đức khen ngợi là người có nghĩa khí, cho sung Khâm phái quân vụ, lĩnh Tuần phủ Định Tường. Ngày ông lên đường vào <st1:place w:st="on"><st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region></st1:place>, vua Tự Đức cấp 30 lạng bạc và giao chỉ dụ để chiêu mộ nghĩa quân. Ông vào đến Biên Hoà, dùng thuyền lên Vĩnh Long. Ông đã cải trang bí mật vào hàng ngũ tướng sĩ ta, động viên họ chiến đấu, vận động nhân dân tham gia kháng chiến chống Pháp, thu gom lương thực, tuyển mộ nghĩa binh, và đã gây được phong trào giết giặc, cứu nước khá sôi nổi trong đồng bào lục tỉnh. Lúc đầu Đỗ Thúc Tỉnh phối hợp với Trương Công Định, về sau với Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương… góp phần đánh thắng giặc Pháp nhiều trận, đặc biệt là trận đốt cháy tàu Hy Vọng (Esperance) của Pháp tại vòm Nhật Tảo năm 1861. Tự Đức ngợi khen, tuyên dương công trạng các tướng sĩ tham gia trận đánh và ban thưởng nhiều thứ trong đó có Đỗ Thúc Tịnh.<o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Do lập được nhiều công lớn, tháng 11 năm 1861, Đỗ Thúc Tịnh được thăng thư Lại Bộ hữu thị lang, lĩnh Tuần phủ như cũ. Trong khi đang cùng với quan quân tập trung sức lo việc đánh đuổi giặc Pháp, lo chuyện thu hồi các tỉnh miền Đông thì ông lâm bệnh và mất tại Vĩnh Long ở tuổi 45.<o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Cái chết của Đỗ Thúc Tịnh lúc bấy giờ đã để lại nhiều tiếc nuối đối với hàng ngũ những người yêu nước chủ trương kháng chiến chống Pháp trong triều Tự Đức cũng như trong nhân dân. Ngay vua Tự Đức cũng phê: Đỗ Thúc Tịnh là người trung can, nghĩa khí, chẳng may chết sớm. Việc làm của ông tuy chưa thành tựu, nhưng tâm chí của ông thật đáng khen, đáng chuộng.<o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Sau khi ông mất, Tự Đức truy tặng ông hàng Tuần phủ Đinh Tường, cáp cho gia đình cho 1 cây gấm Trung Quốc, 5 tấm lụa, 10 cây vải, 80 lạng bạc và các con ông cũng được lục dụng (được ân bổ làm việc khi trưởng thành). Vua Tự Đức còn phái Khâm sai đến nhà ông tổ chức lễ phúng điếu trọng thể khi linh cữu của ông được đưa về Quảng <st1:place w:st="on"><st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region></st1:place>.<o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Công đức và sự nghiệp của Đỗ Thúc Tịnh được Quốc sử quán triều Nguyễn ghi lại rất chi tiết trong “Đại Nam thực lục chính biên” và “Đại Nam liệt truyện”. Năm 1982, Ty Văn hoá – Thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ) đã cho tôn tạo phần mộ của ông và xây thêm bia tưởng niệm với dòng chữ khắc trên bia “Đỗ Thúc Tịnh, một chiến sĩ tiên phong trong phong trào Cần vương chống Pháp”. Ngày nay, ở thành phố Đà Nẵng, nhiều tên đường, tên trường cũng mang tên tiến sĩ Đỗ Thúc Tịnh.<o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><b><span style="font-size:14.0pt;line-height:\r115%"> Khảo tả </span></b><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"><o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Mộ Đỗ Thúc Tịnh được xây trên một vùng đất gọi là trảng Bàu Rèn, trước kia thuộc thôn Hương Lam, xã Hoà Khương, tổng An Phước, huyện Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thôn 5, xã Hoà Khương, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng). Sau khi Đỗ Thúc Tịnh mất tại Vĩnh Long, linh cữu của ông được chính quyền địa phương thời bấy giờ và gia đình đưa về quê nhà và an táng tại vị trí gần với vị trí hiện nay. Sau này, do tác động của môi trường dây nên sự xói lở, ảnh hưởng trực tiếp đến lăng mộ nên vào năm 1964, bà con tộc họ dời lên phía trên, cách địa điểm cũ vài chục mét và xây lại bằng gạch còn lại cho đến nay.<o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Ngôi mộ hiện nay nằm trên một triền gò, mặt nhìn ra cánh đồng rộng, xa hơn là Bàu Rèn nở đầy hoa sen. Ngôi mộ được xây theo kiểu hình móng ngựa được bao bọc bởi một bờ thành cao 0,8m. Diện tích toàn bộ lăng mộ là 5.2m x 8.1m, trong đó phần nấm mộ là 2,5 x 3,25m, được xây theo kiểu hình chữ nhật và cắt góc. <o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 115%;"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Trước nấm mộ là tấm bia mộ lập từ năm Tân Tỵ triều Bảo Đại (1941) có nội dung khắc bằng chữ Hán như sau: <i>“Hiển tổ khảo tiến sĩ Tuần vũ Khâm sai Hội Biện quân vụ tặng Trung phụng đại phu thuỵ Trang Khải Đỗ tướng công chi mộ”</i>. Nhà bia cao 2,07m, chiều ngang 1,5m và chiều dài 0.95m.<o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 115%;"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Cách mộ khoảng 3,5m có một tấm bia Di tích do Ty Văn hoá – Thông tin tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ) lập vào năm 1982. Xung quanh mộ là mốc giới bảo vệ di tích được khoanh vùng trong một khuôn viên có diện tích 9,7 x 20 m.<o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" align="center" style="text-align:center;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Lăng mộ Đỗ Thúc Tịnh là di tích của một danh nhân, người có công lớn trong phong trào chống Pháp dưới thời Tự Đức, đồng thời, cũng là người được nhan dân ở nhiều địa phương tôn kính. Đối với làng La Châu quê ông, vào năm Tự Đức thứ 5 (năm 1852), trong thời gian ở nhà thọ tang cho mẹ, ông đã gặp gỡ và bàn bạc với thân hào, nhân sĩ trong hội Tư văn của huyện Hoà Vang và nhất là với tri huyện Nguyễn Huy Bính xúc tiến và cho xây dựng Văn chỉ La Châu, để thờ đức Khổng Tử và các môn đệ của Ngài nhằm động viên con cháu trong làng, trong xã học hành và truyền dạy tinh thần yêu nước, truyền thống hiếu học. Công trạng này của ông đến nay vẫn được dân làng ghi nhớ.<o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%"> Lăng mộ của ông đã được Ty Văn hoá – Thông tin tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng gắn bia di tích năm 1982, Văn chỉ La Châu cũng được đăng ký bảo vệ. Các di tích trên đã có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục tinh thần yêu nước và truyền thống hiếu học cho thế hệ trẻ hiện nay ở tại địa phương.<o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="text-align:justify;text-indent:36.0pt;line-height:\r115%"><span style="font-size:14.0pt;line-height:115%">Mộ Đỗ Thúc Tịnh được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia tại quyết định số 45/2007/QĐ-BVHTT vào ngày 03/8/2007.<o:p></o:p></span></p>\r<p class="MsoNormal" style="line-height:115%"><span style="font-size:14.0pt;\rline-height:115%"> </span></p>