Hòa Vang: Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968

 

Sự kiện Tết Mậu Thân là cuộc Tổng tiến công và vận động quần chúng nổi dậy chiếm chính quyền vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968 của Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trên hầu hết lãnh thổ của Việt Nam Cộng hòa. Đây là một trong những chiến dịch quân sự lớn nhất và có một vai trò và hệ quả mang tính bước ngoặt trong Chiến tranh Việt Nam. Trong bối cảnh chung đó chiến dịch Mậu Thân ở Hòa Vang-Đà Nẵng diễn ra như sau:

  1. Bối cảnh lịch sử

Những năm 1966-1967, quân đội Mỹ đã hoàn toàn sa lầy trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Quân đội Mỹ không thể bình định được miền Nam Việt Nam, cũng không thể rút quân về nước. Thế giới và chính nội bộ nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh tại Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, quyết liệt. Nắm lấy thời cơ này, Bộ Chính trị đã quyết định đánh một trận gây tiếng vang lớn "Một cú đập lớn để tung tóe ra các khả năng chính trị" (Lê Duẩn). Chiến dịch Mậu Thân năm 1968 đã được quyết định như thế để tạo bước ngoặt lớn trong chiến tranh, buộc Mỹ phải xuống thang, đi tới đàm phán.

Bằng sức mạnh của chính nghĩa, quân và dân miền Nam đã làm thất bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967 của Mỹ - ngụy. Hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định" bị bẻ gãy. Ta đã làm chủ và giữ vững vùng giải phóng, làm chủ áp sát các thị trấn, thị xã, thành phố và lực lượng chính trị của ta còn lớn mạnh hơn bao giờ hết. Trước xu thế đó, Trung ương quyết định chiến lược đánh vào đô thị. Thường vụ Khu ủy 5 quyết định hợp nhất Quảng Đà và Đà Nẵng thành Đặc khu Quảng Đà; sắp xếp Đà Nẵng thành 3 quận, chia Hòa Vang thành 3 khu trực thuộc Đặc khu và chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân 1968 theo chỉ thị của cấp trên.

  1.  Công tác chuẩn bị

Để chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân 1968, Đặc Khu ủy Quảng Đà (lúc này Đà Nẵng thuộc Quảng Đà) đã ban hành và triển khai Nghị quyết Quang Trung (với hàm ý thực hiện cuộc hành quân thần tốc của Quang Trung) đến từng cơ sở. Để tạo điều kiện cho lực lượng nổi dậy trong lòng Thành phố Đà Nẵng, Đặc Khu ủy chủ trương đưa một bộ phận cán bộ, đảng viên ở 2 huyện Hòa Vang và Điện Bàn vào Thành phố để xây dựng các cơ sở bên trong. Thời gian này, nhân dân Quảng Đà dù ở vùng bị chiếm hay vùng tự do đều ra sức đóng góp sức người, sức của cho chiến dịch. Hằng đêm, hàng ngàn thanh niên nam nữ đi lao công tải đạn; các cơ sở bên trong vận động nhân dân góp tiền, vàng nhằm mua lương thực, thực phẩm, thuốc men, xăng dầu... để đưa ra vùng căn cứ phục vụ cho chiến dịch, tuyên truyền, vận động và tổ chức nhân dân cùng lực lượng vũ trang, học tập, phát động phong trào một ngày bằng nhiều năm, với khẩu hiệu "Thiệu - Kỳ không đổ, không giỗ không Tết".

Nhiều cơ sở tại Hòa Vang nhận nhiệm vụ vận chuyển vũ khí từ căn cứ vào Thành phố. Bà con giấu súng, đạn vào các bao than củi, bỏ vào ruột bầu bí, giường, tủ để vậ chuyển, mỗi khu đều có ban quân lương, đội cứu thương, tải thương, các nhà đều đào sẵn hầm để nuôi giấu thương binh hoặc chôn giấu vũ khí, thành lập đội cung cấp chuyên lo việc huy động lương thực, thực phẩm trong nhân dân lọt qua các bót gác của Mỹ, ngụy  tại các cửa ngõ Thành phố và đến các vị trí tập kết an toàn.

Gần đến ngày khởi nghĩa, ta tiến hành củng cố đội ngũ đấu tranh chính trị, xây dựng bộ máy chỉ đạo, chỉ huy lực lượng đấu tranh chính trị từ thành phố xuống xã, thôn, họp chi ủy, chi bộ để phổ biến mệnh lệnh khởi nghĩa, ghép quần chúng được học tập phát động thành từng đại đội, trung đội, tiểu đội. Theo kế hoạch, lực lượng nổi dậy tại trọng điểm Đà Nẵng gồm lực lượng tại chỗ và từ nông thôn tiến vào, trong đó lực lượng xung kích từ nông thôn được chia làm 3 cánh quân và được phân thành 6 mũi có trang bị súng, dao, mác, gậy vào Thành phố với 3 nhiệm vụ: Khởi nghĩa, binh vận và vũ trang tác chiến trên đường đi.

Sáng ngày 31/12/1967, ngày cuối cùng của năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Phủ Chủ tịch để thu thanh chúc mừng năm mới Mậu Thân. Bài thơ "Toàn thắng ắt về ta" được ghi âm vào băng để phát lúc Giao thừa, là hiệu lệnh của cuộc Tổng công kích.

  1. Diễn biến chiến dịch Mậu Thân ở Hòa Vang

Đúng vào lúc 2 giờ 20 phút ngày 31/1/1968, toàn Đà Nẵng đã đồng loạt tấn công bất ngờ vào các cứ điểm của địch trên toàn thành phố gồm: Sân bay Nước Mặn, Sân bay Đà Nẵng, trận địa pháo Thanh Vinh, Tổng kho hậu cần Bàu Mạc, kho xăng Liên Chiểu, chiếm một trong 3 cao điểm của Mỹ ở trên núi Phước Tường đánh nát khu ra-đa, khu thông tin, làm tê liệt hệ thống thông tin liên lạc của Mỹ phía tây Đà Nẵng, lực lượng chủ lực tại đèo Hải Vân, Tiểu đoàn đặc công 87 hợp đồng tiến đánh Đồn Nhất và các vị trí của địch trên đường đèo Hải Vân, diệt 2 đại đội Mỹ, ngụy, phá hủy 6 giàn tên lửa, làm chủ 1 ngày đêm đường đèo. Sau đó, lực lượng này pháo kích 2 lần vào sân bay Xuân Thiều phá hủy 11 trực thăng và nhiều phương tiện chiến tranh của Mỹ...

Nhìn chung ta đã đánh mạnh vào các mục tiêu ngoại vi, nhưng, ở mũi chủ công chính diện đánh vào Thành phố quân ta đã vấp phải nhiều khó khăn và bị tổn thất nặng.

 

Khu III Hòa Vang là hướng tiến công chính của lực lượng chính trị tiến vào thành phố, trung đội 1 thuộc đại đội 1 của tiểu đoàn và 1 trung đội của Khu III, Hòa Vang vượt qua sông, trước khi quân địch lập tuyến ngăn chặn, đã vào iếm quân tại khu vực chùa Bà Quảng (Hòa Cường). Bộ phận này có 57 chiến sĩ. Khi pháo binh của ta dội dội pháo vào sân bay Nước Mặn phát lệnh Tổng tiến công và nổi dậy, 57 chiến sĩ đã dũng cảm vượt qua các lớp rào đánh thẳng vào sở chỉ huy quân đoàn I, chốt giữ một số vị trí trọng yếu ở đây, vừa đánh địch vừa chờ lực lượng vũ trang và đội quân khởi nghĩa của ta tiến vào Thành phố.

 Các cánh quân khởi nghĩa của nhân dân ta từ huyện Điện Bàn và Hòa Vang, đủ các tầng lớp nhân dân, có cả cụ già, phụ nữ, thiếu niên, tay cầm cờ, tay cầm gậy, náo nức, hối hả đã kéo vào Đà Nẵng với 7.400 quần chúng, phân thành 15 đại đội, trong đó 8 đại đội xung kích gồm 2.700 đảng viên, cán bộ, du kích và quần chúng cách mạng (trang bị súng, lựu đạn). Đúng vào lúc ta pháo kích vào sân bay Nước Mặn, 8 đại đội xung kích của vượt qua nhiều ấp hiến lược về tụ tại Trung Lương.

Đến 5 giờ ngày 31/1/1968 khi có lệnh vượt sông vào thành phố, cơ sở cách mạng Hòa Cường đã huy động 100 chiếc thuyền và 3 ca nô chở quân khởi nghĩa qua sông nhưng bị quân ngụy đóng ở ấp chiến lược Cồn Dầu nổ súng chặn lại từ nhiều cánh của địch. Hai đại đội xung kích của ta chuyển hướng tiến công vào ấp chiến lược Cồn Dầu làm chúng hốt hoảng tháo chạy, ta bắt được 15 tên ngụy, tề và đánh chiếm bốt gác của quân ngụy tại cầu Vịnh Đa để mở đường tiến công vào thành phố, du kích bắn rơi một máy bay trinh sát, bọn chốt gác bỏ chạy tán loạn. Đội quân khởi nghĩa làm chủ bốt gác và tiến tới chiếm lĩnh ấp chiến lược Hòa Cường, tại đây ta đã bắt được 35 tề, ngụy, đồng thời tổ chức mít tinh phát động quần chúng nổi dậy.

Khu II Hòa Vang, huy động được 6.000 người chia làm hai bộ phận, 3.000 quần chúng xung kích vào trước nội thành nhưng bị hoãn lại chờ lệnh, còn lại 3.000 người phía sau đang tập kết ở đường Túy Loan-Cẩm Lệ quay về phản kích vào quận lỵ Hiếu Đức, đánh sập nhà hành chính, cảnh sát, đốt cháy kho vũ khí, đạn dược và hàng chục tên địch. Sau một ngày lực lượng rút ra ngoài tản về các địa phương.

Hướng Khu I Hòa Vang, cuộc đấu tranh quyết liệt diễn ra tại thị trấn Nam Ô, sau đó một lực lượng vượt sông Thủy Tú để tiến vào thành phố. Trước khí thế hừng hực của quân và dân ta, bọn Mỹ đã bắn xối xả vào đội hình quần chúng, ông Nguyễn Bá Hiệu (thôn Xuân Thiều) cầm cờ đi đầu đã hy sinh tại chỗ. Trước tình hình đó, lực lượng vũ trang vừa đánh trả địch, vừa đưa một bộ phận quần chúng vào bên trong thị trấn để nổi dậy tổ chức biểu tình, thị uy cùng với lực lượng vũ trang truy bắt tề ngụy. Nhân dân đã làm chủ được một ngày, sau đó địch dùng hỏa lực liên tục bắn vào thị trấn Nam Ô, lực lượng quần chúng buộc phải rút ra nhưng bọn tề ngụy vẫn không dám quay trở lại thị trấn Nam Ô trong một thời gian.

Điều đáng tiếc là do "giờ G" thay đổi, do hai lực lượng quân sự và chính trị không phối hợp chặt chẽ, lại bị địch phát hiện, mất yếu tố bất ngờ nên cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Đà Nẵng không đạt yêu cầu như đã định, các cánh quân khởi nghĩa vùng cát Hòa Vang - Điện  Bàn, Khu I, Khu II và Khu III - Hòa Vang, vùng A và B của Huyện Điện Bàn đã tiến vào Đà Nẵng theo các hướng đã phân công song đều bị địch phát hiện và chặn lại, địch điều hai Tiểu đoàn 21 và 59 biệt động quân, Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 57 cùng 4 xe tăng tổ chức phản kích chiếm lại sở chỉ huy quân đoàn I.

  1. Kết quả chung trên mặt trận Quảng Đà

Chiến dịch Xuân Mậu Thân, quân và dân ta tại chiến trường Quảng Đà đã loại khỏi vòng chiến đấu 5.531 tên địch, trong đó có 1.849 tên Mỹ và 438 tên lính đánh thuê Đại Hàn, phá hủy và bắn rơi 192 máy bay các loại, đánh cháy 40 xe tăng và xe bọc thép, phá hủy 49 khẩu pháo và kho hàng của địch... Thắng lợi trong Xuân Mậu Thân 1968 là ta đã giáng một đòn quyết định làm phá sản chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ; buộc chúng, dù ngoan cố và dù còn gây cho ta nhiều khó khăn nhưng đã phải bắt đầu quá trình xuống thang chiến tranh, bắt đầu rút quân Mỹ về nước, chuyển chiến lược sang "phi Mỹ hóa" chiến tranh và nhận đàm phán với ta ở Hội nghị Pari.

Về phía ta: Do sự phối hợp giữa lực lượng vũ trang và lực lượng khởi nghĩa của quần chúng chưa chặt chẽ, do giờ G thay đổi mất yếu tố bất ngờ kế haochj không đạt được mục tiêu và bị nhiều tổn thất: Hàng trăm cán bộ cơ sở, quần chúng hi sinh và bị địch bắt, Đảng bộ xã Hòa Hải từ 100 đảng viên chỉ còn 20 đồng chí, Đảng bộ xã Hòa Long từ 60 đảng viên nay chỉ còn 4 đồng chí, lực lượng du kích còn đôi ba người, các cán bộ chủ chốt Quảng Đà như đồng chí Mai Đăng Chơn Thường vụ Đặc khu ủy, đồng chí Nguyễn Hữu Đức phó tham mưu trưởng mặt trận 4…cũng đã hi sinh trong đợt này. Do không thống nhất về thời gian theo kế hoạch, đặc biệt là mũi tiến công quân sự của bộ đội chủ lực không phối hợp được, nên kế hoạch khởi nghĩa trong thành phố của ta phải hoãn lại, quần chúng được lệnh rút ra khỏi thành phố. Nhưng, việc tổ chức đưa quần chúng trở ra phải đối mặt với khó khăn gấp bội. Lúc này, địch đã phát hiện được ý đồ của ta, nên tăng cường đối phó và đàn áp dã man. Bộ đội tỉnh, huyện và du kích phải chiến đấu cực kỳ quyết liệt để bảo vệ quần chúng. Trong cuộc chiến đấu không cân sức, lực lượng của ta, kể cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đã kiên cường đấu tranh và đánh địch đến hơi thở cuối cùng.

         5. Ý nghĩa lịch sử

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tại Đà Nẵng nói chung và Hòa Vang nói riêng là một đòn đánh bất ngờ của quân và dân ta có tác động rất lớn đến đế quốc Mỹ và tay sai của chúng, là một "Trân Châu cảng" cho quân Mỹ tại Việt Nam, báo hiệu sự sụp đổ không tránh khỏi của quân Mỹ tại miền Nam Việt Nam, làm cho nội bộ chính quyền Mỹ thêm lủng củng và phân rẽ. Vì lẽ đó, ý nghĩa của sự kiện Tết Mậu Thân tại Đà Nẵng là một thắng lợi không thể phủ nhận được. Nó đánh dấu sự thất bại của chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ và bắt đầu cho quá trình rút ra khỏi miền Nam Việt Nam".

Đây là lần đầu tiên trong công cuộc chống Mỹ, cứu nước, quân và dân đất Quảng đã đồng loạt tiến công vào thành phố Đà Nẵng và cơ quan đầu não của Mỹ-ngụy, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giành những thắng lợi có ý nghĩa về quân sự, chính trị; quân dân thành phố Đà Nẵng đã phát huy mạnh mẽ tinh thần quyết chiến, quyết thắng kẻ thù trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp trước đó, tinh thần ủng hộ cách mạng hết mình với một khát vọng duy nhất "Thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Tinh thần đó, ý chí đó vẫn tiếp tục được phát huy mạnh mẽ trong sự nghiệp xây dựng và phát triển thành phố hôm nay.

Chiến dịch Xuân Mậu Thân đã huy động đến mức cao nhất tinh thần yêu nước và ý chí tiến công tiêu diệt giặc của Đảng bộ và nhân dân Hòa Vang. Các cán bộ, đảng viên, du kích và những cơ sở trung kiên nơi đây đã bất chấp mọi hy sinh, gian khổ, hỗ trợ đắc lực cho kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy tại thành phố Đà Nẵng, góp phần đưa cuộc chiến tranh cách mạng vào thời kỳ phát triển mới: thời kỳ kết hợp tổng tiến công và nổi dậy trên khắp cả ba vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng và đô thị. Quá trình chuẩn bị và thực hiện cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân đã tỏ rõ sức mạnh và khí thế rung trời, chuyển đất của nhân dân. Từ đó, đã rút ra được nhiều bài học cho các cuộc tấn công, nổi dậy sau này.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là bản anh hùng ca bất diệt, là một chặng đường lịch sử vẻ vang, niềm tự hào to lớn đối với Đảng bộ và nhân dân Hòa Vang hôm nay và mai sau. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy dịp Tết Mậu Thân năm 1968 của quân và dân ta đã đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc chiến với đế quốc Mỹ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân nhìn tổng thể là một cuộc tiến công có tính chiến lược, với quy mô rộng khắp, mãnh liệt, với khí thế chưa từng có, góp phần cùng miền Nam giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, ngồi đàm phán ở Pari...

         6. Bài học kinh nghiệm

50 năm đã trôi qua, nhưng ý nghĩa và bài học của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 vẫn còn vẹn nguyên giá trị: Đó là khát vọng về độc lập, tự do và hòa bình cho Tổ quốc, là niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, là tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong hoạch định đường lối và chỉ đạo chiến lược, là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, để lại nhiều bài học sâu sắc:

- Nắm bắt thời cơ chiến lược để chủ động tiến công địch, làm chuyển biến cục diện chiến tranhCuối năm 1965, khi ta nhận thấy "xu thế của tình hình trong cả nước năm 1968 là địch sẽ ngày càng chuyển vào phòng ngự một cách bị động hơn trước", như vậy, địch vẫn đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn… Mặt khác, về phía ta, mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, nhược điểm (cả về tổ chức lực lượng, về khả năng đánh tiêu diệt lớn, về đảm bảo hậu cần, về phong trào ở đô thị...) nhưng diễn biến cơ bản của tình hình vẫn cho thấy ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi, đây là một nhận định rất quan trọng, có ý nghĩa lớn. Do đó, khi phát hiện thấy động thái mới của địch sau mùa khô 1966 - 1967, Đảng ta đã sớm dự kiến được xu thế phát triển của cuộc chiến tranh, kịp thời phát hiện được thời cơ để hạ quyết tâm chiến lược bằng việc mở cuộc tiến công Tết Mậu Thân 1968.

- Chọn cách đánh, mục tiêu và nghi binh lừa địch sáng tạo:  không đánh theo cách như hai mùa khô trước. Bởi vì nếu đánh như hai mùa khô trước cho dù có đạt được mục tiêu cao hơn là "tiêu diệt lữ đoàn Mỹ", đánh gục một số sư đoàn ngụy, mở rộng vùng giải phóng, giành thêm dân thì cũng không thể tạo được chuyển biến chiến lược gì đáng kể và như vậy thì cuộc chiến tranh sẽ nhùng nhằng, kéo dài. Hơn nữa trong hơn hai năm đánh Mỹ, ta mới tiêu diệt được tiểu đoàn Mỹ, bắt tù binh, thu chưa được nhiều vũ khí, nay nâng mức đánh tiêu diệt từ tiểu đoàn lên lữ đoàn quân Mỹ, cũng khó có thể làm được. Chính vì vậy, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chọn hướng tiến công chủ yếu không phải là rừng núi và nông thôn như trong các mùa khô trước-nơi địch tương đối yếu, mà nhằm vào đô thị, là lần đầu tiên trong suốt nhiều năm kháng chiến, chúng ta đã đưa được chiến tranh vào đô thị, đó là các mục tiêu "yết hầu", "huyết mạch", "tim óc" của địch là những mục tiêu tập trung sinh lực cao cấp của địch nơi tập trung các cơ quan đầu não trung ương và địa phương của chính quyền Sài Gòn (các sở chỉ huy, sân bay, bến cảng, kho tàng, căn cứ truyền tin, đầu mối giao thông)mặc dù địch ở đây khá mạnh. Đây có thể nói là một bất ngờ lớn đối với địch, bởi vì chúng vẫn cho rằng bộ đội ta ít kinh nghiệm đánh thành phố và chưa có khả năng đánh vào các trung tâm chính trị, quân sự của chúng.

- Chọn thời điểm: mở đầu cuộc Tiến công chiến lược Tết Mậu Thân 1968 được ta tạo ra và nắm bắt đúng lúc, không sớm và cũng không muộn. Nếu sớm quá, ta chưa đánh thắng hai cuộc phản công chiến lược vào hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 thì Mỹ còn mạnh. Độc đáo hơn cuộc tiến công được tiến hành vào dịp Tết Nguyên đán-đúng đêm giao thừa và mồng Một Tết, khi nhiều sỹ quan tham mưu và quân báo của địch nhận định cuộc tiến công có nhiều khả năng xảy ra vào thời gian trước Tết, nhưng đến những ngày trước Tết, khi thấy tình hình vẫn im ắng thì phía Mỹ lại thêm chủ quan, lơ là mất cảnh giác. Vì vậy khi bị tiến công, địch bất ngờ và ứng phó vô cùng lúng túng.

                                                                               Ban Tuyên giáo Huyện ủy

Tin cùng chuyên mục























Thống kê truy cập Thống kê truy cập

0 3 5 7 6 0 9 2 5
Hôm nay: 4.763
Hôm qua: 12.308
Tuần này: 40.092
Tháng này: 353.994
Tổng cộng: 35.760.925