Tiểu sử Nhà Văn Lâm Quang Thự
Nhà văn Lâm Quang Thự, nhà hoạt động, sinh ngày 15-9-1905 tại làng Cẩm Toại, tổng An Phước, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Hòa Phong, huyện Hoà Vangthành phố Đà Nẵng).
Xuất thân trong gia đình Nho học, thuở nhỏ học ở Huế. Năm 1925, ông đậu Cao đẳng Tiểu học, ngành sư phạm (Quốc học, Huế) rồi được bổ làm giáo học tại trường Tiểu học Pháp Việt Nha Trang. Tại đây ông bắt đầu giác ngộ cách mạng, tinh thần yêu nước, tham gia phong trào đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, tổ chức lễ truy điệu cụ Phan Châu Trinh, tổ chức các buổi học ban đêm cho thợ thuyền, dân nghèo.
Năm 1928, ông bị cách chức giáo học nên ông vào Sài Gòn dạy trường tư, gia nhập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, sau chuyển sang Đảng Cộng sản Đông Dương.
Năm 1931, ông bị Pháp bắt và giải về Quảng Nam quản thúc một thời gian. Năm 1932, ông làm thư kí công nhật ở sở Hoả xa Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, đến năm 1937 được đổi về Đà Nẵng.
Năm 1939, ông tham gia các phong trào công khai như: vận động bầu cử Đặng Thai Mai vào Viện Dân biểu Trung Kỳ, tổ chức và làm hội trưởng Hội Ái hữu Hoả xa...
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (3-1945) ông tham gia đỡ đầu phong trào thanh niên Quảng Nam - Đà Nẵng, có chân trong Hội Truyền bá Quốc ngữ tại hai hạt Đà Nẵng - Hoà Vang.
Tháng 8-1945, ông là chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng huyện Hoà Vang.
Trong cuộc tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, ông được bầu đại biểu Quốc hội. Năm 1946, ông được cử làm Chánh văn phòng Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Nam.
Đầu năm 1947, ông làm Trưởng ban xây dựng các chiến khu của tỉnh ở Quế Sơn, Tiên Phước, Tam Kỳ. Giữa năm 1947, ông trở lại cơ quan tỉnh và sau đó được cử làm Ủy viên Ủy ban Kháng chiến hành chánh miền Nam Trung bộ đến ngày kí hiệp định Genève năm 1954.
Năm 1955, ông tập kết ra Bắc, công tác tại Bộ Nội vụ, phủ Thủ tướng, tham gia nghiên cứu luật tuyển cử để chuẩn bị hiệp thương tổng tuyển cử theo qui định của hiệp định Genève.
Cuối năm 1956, ông được điều sang Văn phòng Ủy ban thường vụ Quốc hội làm công tác nghiên cứu, giữ chức quyền Vụ trưởng Vụ dân chính, đến đầu năm 1970 ông nghỉ hưu.
Ngoài những hoạt động cách mạng, kháng chiến, ông còn nghiên cứu về lịch sử và pháp luật, ông viết sách, đọc nhiều tham luận tại các kì họp Quốc hội.
Ông được nhà nước Việt Nam công nhận là cán bộ có hoạt động cách mạng trước Cách mạng Tháng 8-1945 và được hưởng chế độ ưu đãi.
Ngày 16-6-1900, ông mất tại Bệnh viện hữu nghị Việt Xô, hưởng thọ 85 tuổi, an táng tại nghĩa trang Văn Điển (Hà Nội).

    

Tin cùng chuyên mục























Thống kê truy cập Thống kê truy cập

0 3 5 8 0 3 8 3 9
Hôm nay: 17.933
Hôm qua: 12.367
Tuần này: 17.933
Tháng này: 396.908
Tổng cộng: 35.803.839